Trang chủ >>Kiểm nghiệm phân bón>>Giới thiệu chung
Hệ thống máy phân tích Dumas của Trung tâm Khảo kiểm nghiệm phân bón Quốc gia
27/03/2020

   Phương pháp Dumas là một kỹ thuật xác định hàm lượng nitơ trong các chất khác nhau. Được sử dụng lần đầu tiên cách đây hơn 150 năm và còn được gọi là “phương pháp đốt cháy” có tính chính xác caođo mẫu nhanh. Thời gian phân tích cho 01 mẫu chưa đến 5 phút. Phương pháp này được thừa nhận bởi các tổ chức quốc tế như: AOAC, AACC, ASBC, ISO, OIV.

   NDA 701 – Hệ thống phân tích hàm lượng Nitrogen trong tất cả các loại mẫu nông sản, thực phẩm, thủy hải sản, thức ăn gia súc và nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc, phân bón, dược phẩm, thuốc thú y… ở dạng rắn, dạng sệt, dạng lỏng hiệu quả theo phương pháp DUMAS.

   Phần mềm điều khiển sử dụng đơn giản, người sử dụng có thể quan sát dữ liệu ghi lại và dữ liệu chính cài đặt và hiển thị giá trị Nitrogen / protein của mẫu.



  • Trong thời gian qua phương pháp Kjeldahl được sử dụng rộng rãi để xác định hàm lượng protein trong thực phẩm. Tuy nhiên, gần đây phương pháp Kjeldahl đã được thay dần bằng phương pháp Dumas vì phương pháp Dumas cho kết quả nhanh hơn và không phải sử dụng các hóa chất độc hại.
  • Cả hai phương pháp này đều dùng để xác định hàm lượng nitơ trong sản phẩm nhưng sử dụng các nguyên tắc khác nhau. Sử dụng hệ số thích hợp để chuyển đổi tượng nitơ thành hàm lượng protein. Hệ số này thay đổi theo lượng protein khác nhau và thành phần axit amin của chúng có trong sản phẩm đó.
  • Phương pháp Dumas cũng như phương pháp Kjeldahl đều không phân biệt được nitơ protein và nitơ phi protein. Trong nhiều trường hợp, các kết quả thu được bằng phương pháp Dumas hơi cao hơn kết quả thu được bằng phương pháp Kjeldahl, bởi vì phương pháp Dumas xác định được gần như tất cả các nitơ phi protein còn phương pháp Kjeldahl thì chỉ xác định được một phần.

Mẫu được chuyển hóa thành khí bằng cách đốt hóa khí mẫu. Tất cả các thành phần gây nhiễu được loại bỏ ra khỏi hỗn hợp khí tạo thành. Các hợp chất nitơ của hỗn hợp khí hoặc của phần đại diện của chúng được chuyển về nitơ phân tử và được định lượng bằng detector dẫn nhiệt. Hàm lượng nitơ được tính toán bằng bộ vi xử lý.

Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc đốt cháy mẫu cần phân tích để thu được nước, oxi, cacbon đioxit, nitơ. Tách nước qua hai bước: quá trình tách vật lý và quá trình hóa học. Giữa hai bước tách này, các thành phần khí đi qua bộ phận khử furnace reduction để chuyển hóa nitơ thành nitơ oxit. Sau khi tách CO2 ở bộ phận hấp phụ tự tái sinh, khí còn lại chỉ là nitơ và được phát hiện bởi detector dẫn nhiệt TCD. Quá trình này được thực hiện có sự hiện diện của Oxi để chuyển hóa hoàn toàn N thành NO2.

Các tin liên quan